Vài nét về người Ê đê

<strong>ĐỒNG BÀO Ê – ĐÊ Ở TÂY NGUYÊN</strong>

Người Ê Đê cho rằng vị thần cao nhất của họ là A.Ê – D.I.Ê nghĩa là <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C6%B0%E1%BB%A3ng_%C4%90%E1%BA%BF”>Thượng Đế</a>. Ê Đê hay là là Anak A.Ê – D.I.Ê có nghĩa là những đứa con của Thượng Đế. Như vậy người Êđê tự gọi mình là con của Thượng Đế . Lại c ó một  truyền thuyết  cho rằng  từ ngữ  Êđê bắt nguồn từ  Phạn Ngữ là Đê ga  hay là  Ana Degar.    Đêga nghĩa là Cao Nguyên. Anak Đêgar được hiểu là những người sống trên Cao Nguyên.

<strong>1.Địa bàn cư trú</strong>

Dân tộc có nguồn gốc từ nhóm tộc người Mã Lai (Malays) thuộc các hải đảo Thái Bình Dương đã có mặt lâu đời ở Đông Dương, chuyển cư vào miền trung Việt Nam hàng ngàn năm trước, và di cư lên Tây Nguyên khoảng sớm nhất vào cuối thế kỷ 8 đến thế kỷ 15.,  cư trú tập trung ở tỉnh <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%AFk_L%E1%BA%AFk”>Đắk Lắk</a>, phía nam của tỉnh <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_Lai”>Gia Lai</a> và miền tây của hai tỉnh <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%A1nh_H%C3%B2a”>Khánh Hòa</a> và <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%BA_Y%C3%AAn”>Phú Yên</a>.

<strong>2.Tiếng Nói</strong>

Tiếng nói của người Ê Đê thuộc <a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nh%C3%B3m_ng%C3%B4n_ng%E1%BB%AF_M%C3%A3_Lai-Polynesia&amp;action=edit&amp;redlink=1″>nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia</a> (ngữ hệ Nam Ðảo). tiếng Ê Đê còn vay mượn vốn từ vựng có nguồn gốc từ Môn -Khmer và một số từ vựng tiếng Pháp

Thông thường họ dùng từ Dam (nghĩa là Chàng) để đệm cho Nam giới như Dam Sam, Dam Điêt, Dam Yi… và Hơbia (nghĩa là Nàng) để đệm cho Nữ giới như HơBia Blao, HơBia Ju, HơBia Jrah Jan.

Người Ê Đê cũng là tộc người duy nhất ở Việt Nam đặt tên theo cấu trúc Tên trước Họ sau, có thể là kết quả ảnh hưởng của văn hóa Pháp.
<h2>Người Ê Đê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A7n_tho%E1%BA%A1i”>thần thoại</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%95_t%C3%ADch”>cổ tích</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ca_dao&amp;action=edit&amp;redlink=1″>ca dao</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%A5c_ng%E1%BB%AF”>tục ngữ</a>, đặc biệt là các  <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_ca”>trường ca</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%AD_thi”>sử thi</a> (<a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Khan&amp;action=edit&amp;redlink=1″>Khan</a> nổi tiếng với Khan <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90am_San”>Đam San</a>, Khan Đam Kteh M’lan),… Người Ê Đê yêu ca hát, thích tấu nhạc và thường có năng khiếu về lĩnh vực này. Nhạc cụ có <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%93ng_chi%C3%AAng”>cồng chiêng</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%91ng”>trống</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%A1o”>sáo</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kh%C3%A8n&amp;action=edit&amp;redlink=1″>khèn</a>, Gôc, Kni, đàn, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90inh_N%C4%83m”>Đinh Năm</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90ing_kt%C3%BAt”>Đinh Tuốc</a> là các loại nhạc cụ phổ biến của người Êđê và được nhiều người yêu thích</h2>
<strong>3.Nhà Cửa</strong>

Nhà dài truyền thống của người Ê-đê là một phức hợp không gian kiến trúc độc đáo, thể hiện nét đặc trưng trong đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng – tâm linh, một công trình sáng tạo văn hóa vật chất ấn tượng.

Theo quan niệm cổ truyền người Ê-đê, nhà dài là nơi chung sống của đại gia đình theo chế độ mẫu hệ. Ngôi nhà thường xuyên được nối dài mỗi khi một thành viên nữ trong đại gia đình xây dựng gia thất. Người con trai lấy vợ sẽ đến ở nhà vợ và không có quyền hành gì.

Thông thường ngôi nhà dài của đồng bào dân tộc Ê-đê có từ 7 đếm 9 cặp vợ chồng chung sống. Trong ngôi nhà dài truyền thống các giá trị điêu khắc, trang trí, tạo hình đều phỏng theo mô típ chế độ mẫu hệ, tín ngưỡng phồn thực.

Không gian nhà dài bố trí ghế : Kpan dài để ngồi đánh chiêng tiếp khách ,chiếc ghế K’pan điếc chỉ giành cho phụ nữ, bếp lửa sinh hoạt; bài trí các sản vật trên rừng dưới nước thể hiện sự giàu có: chiêng, ché, sừng trâu, ba ba, kỳ đà, rau dớn…

Nguyên vật liệu để dựng nên ngôi nhà dài truyền thống của người Ê-đê chủ yếu bằng gỗ, tre, nứa, mái tranh. Kết cấu của nhà là cột kèo bằng gỗ tốt có độ bền cao. Nhà được thưng vách và lót sàn bằng phên nứa, mái lợp cỏ tranh, đỉnh mái cách sàn nhà khoảng 4 – 5m, lòng nhà rộng khoảng 4,5m – 5,5m, ngôi nhà tọa lạc hướng Bắc – Nam.

Bố cục nhà dài chia làm 2 phần: nửa phía trước gọi là “Gah” chứa các vật dụng như: ghế chủ, ghế khách, bếp chủ, ghế dài Kpan, cồng chiêng và là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung trong gia đình. Nửa phía sau là “Ôk” là chỗ ở của các đôi vợ chồng, đặt bếp nấu ăn chung.

Mái nhà được lợp bằng cỏ tranh rất dày (nay có thể lợp bằng ngói), vách và sàn nhà ghép bằng phên thân cây nứa bổ đôi đập giập. Các thanh đòn tay của mái nhà hầu hết được đẽo bằng tay từ những thân gỗ nguyên cây dài cả chục mét. Vì vậy, dựa vào số lần nối đòn tay, người ta có thể biết ngôi nhà đó đã được nối dài bao nhiêu lần. Và thông thường, mỗi lần người Ê Đê nối dài thêm nhà là khi trong nhà có một thành viên nữ xây dựng gia thất.

Nhà càng dài chứng tỏ gia đình đó càng đông thế hệ con cháu cùng sinh sống.

Từ xa xưa, chiếc cầu thang là niềm tự hào của gia đình và cộng đồng. Nó là vật có hình khối cân đối làm bằng gỗ, có các bậc thang được đẽo vát nối tiếp nhau từ dưới đất lên đến sàn nhà. Mặt phẳng của các bậc thang thường nghiêng về bên trong và số bậc thang bao giờ cũng mang số lẻ, vì đây là con số lí tưởng theo quan niệm của người Ê Đê. Đáng chú ý, mỗi ngôi nhà dài bao giờ cũng có hai cầu thang, một dành cho khách và một dành cho người nhà khi lên xuống.

Trước nguy cơ nhà dài truyền thống của người Êđê ngày bị mai một, Buôn Akô Dhông nằm ngay trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột đã có cách bảo tồn các ngôi nhà dài truyền thống của đồng bào Êđê khá độc đáo. Đó là, già làng Ama H’rin đã phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức họp buôn làng, ai có nhu cầu làm nhà ở mới theo kiểu nhà đồng bào Kinh (không phải nhà sàn dài truyền thống) chỉ được làm sau các ngôi nhà dài sàn truyền thống. Nếu hộ gia đình nào không chấp hành, buôn làng phạt và buộc phải tháo dỡ.

Nhờ vậy, hiện nay, buôn Akô Dhông vẫn giữ được 53 ngôi nhà sàn dài truyền thống của đồng đồng Êđê. Hiện nay, buôn Akô Dhông đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn của khách trong và ngoài nước.
<ul>
<li><strong>Chiếc ghế K’Pan Trong ngôi nhà của người Ê Đê</strong></li>
</ul>
Ghế K’pan biểu tượng sung túc

K’pan là một chiếc ghế độc mộc, bằng gỗ nguyên khối dài khoảng 15m, rộng từ 65 đến 85cm, với độ dày 7-8cm kê cao 45-50cm, hơi cong ở hai đầu tạo nên dáng vẻ vững chắc, mạnh mẽ.

Không phải nhà nào cũng được làm K’pan, thường trong buôn chỉ có 1 đến 2 gia đình, còn buôn nào có nhiều người giàu thì cũng chỉ có thêm 3 đến 4 nhà mà thôi. Gia đình nào muốn được cộng đồng ủng hộ cho tổ chức lễ hội làm K’pan thì gia đình đó phải có kinh tế khá giả, có tấm lòng hào hiệp, hay giúp đỡ những người xung quanh.

Bên cạnh đó, gia đình được làm K’pan không chỉ phải lo đủ trâu, lợn, gà, rượu, gạo phục vụ cho bà con trong những ngày làm K’pan, mà theo tục lệ còn phải tổ chức được các lễ hiến sinh, cầu sức khỏe, có nhiều cuộc khoản đãi cộng đồng và có nhiều chiêng ché.

Để làm được một chiếc K’pan cần phải có sự giúp sức của cả buôn làng, chứ một gia đình khó lòng làm nổi, vì thế K’pan cũng có thể xem là biểu tượng thể hiện tinh thần đoàn kết giữa các gia đình trong cộng đồng buôn làng dân tộc Êđê. Thời gian làm K’pan khoảng một tuần mới có thể hoàn thành.

Do đồng bào Êđê theo chế độ mẫu hệ nên việc tìm chặt cây phải được bàn định trước với gia đình bên vợ và cây rừng để làm K’pan phải được người phụ nữ có tiếng nói trong gia đình lựa chọn. Đó là một cây gỗ cổ thụ, cao, to, thẳng, đã được thần linh chứng giám cho phép chặt từ rừng thiêng.

Trước khi muốn chặt cây lớn mang về làm K’pan thì chủ nhà phải lấy một mảnh nhỏ vỏ cây mang về cúng thần. Để tránh mọi điều xui xẻo và mang lại nhiều may mắn cho gia chủ K’pan. Khi đi chặt cây gỗ lớn nhà chủ và thầy cúng phải chọn ngày đẹp trời, trong buôn không có đám tang. Dẫn đầu đoàn vào rừng chặt gỗ là người lớn tuổi trong nhà cùng thầy cúng, tiếp đó là 7 người con trai khỏe mạnh mang theo dao, búa, rìu. Đi cuối là dân làng và người nhà mang lương thực phục vụ.

Đến chỗ cây lớn đã định, thầy cúng và chủ nhà phải chọn chiều cây đổ dọc theo dòng nước chảy rồi mới cho bổ rìu. Chủ nhà là người bổ nhát rìu đầu tiên rồi sau đó mới đến mọi người. Gỗ để làm K’pan phải chọn loại cây rừng lâu năm, cao, to, thẳng, gỗ tốt. Cây ngả xuống, người ta chặt sạch cành lá. Chủ nhà và thầy cúng đi lên thân cây 7 lần để đuổi tà ma, rồi những người thợ mới được dùng rìu đẽo cây thành chiếc K’pan có hình chiếc thuyền với những đường nét khỏe khoắn.

Sau khi thầy cúng cầm rìu bổ nhẹ vào K’pan theo tục lệ, mấy chục trai tráng trong buôn cùng khênh K’pan về buôn, còn những thanh niên nam nữ khác vừa đi theo múa hát, gõ chiêng. Đến đầu buôn, đám rước đặt K’pan xuống cho thầy cúng phủ vải đỏ lên rồi mới đưa về, đặt ở vườn sau của chủ nhà.

Các ngày sau đó, những người thợ khéo tay nhất buôn sẽ chạm khắc những hoa văn có tính biểu tượng truyền thống Êđê lên chiếc K’pan và họ được chủ nhà nuôi cơm rượu. Khi chiếc K’pan chính thức hoàn thành, mọi người trong buôn tập trung đưa ra cửa trước, đặt một đầu lên sàn nhà. Người chủ ăn mặc đẹp, cầm lấy khiên, kiếm đã được bày sẵn trên chiếu, đi lại 7 lần trên K’pan để xua đuổi điều xấu và không may mắn rồi đặt tên cho K’pan như một sự thông báo chính thức mình là chủ của K’pan. Lúc này, thầy cúng làm lễ khấn báo thần linh rằng, K’pan đã có chủ và cho khiêng vào gian khách, đặt dọc vách phía tây nhà và khi ấy lễ cầu Yang mới chính thức diễn ra.

Lễ rước Ghế K’pan

Sau khi hoàn thành ghế K’pan thì tiến hành lễ rước về nhà. Tất cả mọi người tham gia buổi lễ đều mặc trang phục truyền thống của người Êđê. Những Nghệ nhân mang theo các loại nhạc cụ như đinh năm, đinh tút, tù và. Trước khi vào hành lễ, thầy cúng mặc khố, áo truyền thống đi trước, theo sau là một tốp nam thanh niên gồm 14 đến 20 người ghé vai cùng khiêng chiếc K’pan.

Tiếp đến là thanh niên nam, nữ đi thành hai hàng dọc, còn các Nghệ nhân thì vừa đi vừa diễn tấu, múa các loại nhạc cụ. Khi rước K’pan về đến nhà, trên sàn nhà đã được trải chiếu và bày sẵn một bát cơm, vòng đồng, áo. Thầy cúng hoặc chủ nhà cầm khiên, kiếm đạp lên đầu ghế K’pan bảy lần hoặc múa khiên, kiếm đi dọc K’pan để “đuổi thần xấu” ra khỏi K’pan. Múa xong, thầy cúng báo cho dân làng và những người đến dự biết tên của K’pan là gì. Ghế K’pan được quay đầu đưa vào nhà và được kê vào đúng vị trí dọc theo vách phía tây tại gian tiếp khách, sát với hàng cột. Khi được kê xong xuôi, thầy cúng bắt đầu cúng báo cho tổ tiên biết ghế K’pan đã được đưa vào nhà.

Lễ vật cúng gồm 5 ché rượu, 5 chén cơm, 5 chén rượu, 5 chén đựng thịt (mỗi thứ một ít), một đầu heo, một miếng lá chuối cắt tròn. Khi lễ vật được bày xong, thầy cúng ngồi trước lễ vật, chủ nhà ngồi bên cạnh, dàn chiêng đánh bài Tông Ngă Yang khoảng 5 đến 10 phút thì dừng lại để thầy cúng khấn. Cúng xong, thầy cúng cầm cần uống rượu trước, sau đó đưa cần cho chủ nhà và những người trong gia đình vừa uống vừa ăn thịt. Khi những người trong nhà uống xong thì mời mọi người dự lễ cùng ăn uống. Tiếng chiêng vang dội khắp buôn làng, những điệu múa nhịp nhàng ngân mãi cho đến khi rượu nhạt thì buổi lễ mới chấm dứt.

Theo quan niệm cổ xưa, gia đình nào làm được K’pan, chủ nhà nghỉ 2 ngày không đi làm nhưng đến ngày thứ ba mở một ché rượu ngon mời người thân tới uống mừng sự hoàn thành tốt đẹp của K’pan. Ngày nay, họ không thực hiện nhiều thủ tục kiêng kị như trước, nhưng những bữa liên hoan chúc mừng vẫn diễn ra suốt đêm…

Lễ rước K’pan là nghi lễ đặc trưng, mang tính sinh hoạt cộng đồng, thể hiện sự đoàn kết của đồng bào Êđê. Vì thế, việc bảo tồn lễ rước K’pan là cơ hội để đồng bào nhớ lại và gìn giữ những nét đẹp văn hóa đặc trưng của cộng đồng dân tộc mình, đồng thời giáo dục con cháu phải luôn nhớ đến những thể thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang bản sắc dân tộc Ê đê.

<strong>4.Trang Phục </strong>
<ul>
<li><strong>Trang Phục Nam :</strong> theo truyền thống, trang phục của người dân Êđê là màu đen hoặc màu chàm, trên đó có những họa tiết hoa văn sặc sỡ. Phần lớn, đàn bà đều mặc váy, quấn váy (tiếng địa phương gọi là Ieng), đàn ông thì đóng khố (Kpin), mặc áo. Đồng bào dân tộc Êđê còn rất thích dùng các đồ trang sức bằng bạc, đồng hay hạt cườm, họ cũng mang hoa tai và vòng cổ khi ra khỏi nhà thường đeo bên mình gùi và ngậm tấu.</li>
</ul>
Ngày xưa, đàn ông Êđê thường để tóc dài rồi búi tó sau gáy, nay thì họ đã cắt tóc ngắn, gọn gàng giống như người Kinh hiện đại. Tuy nhiên, tầng lớp trung niên ở Êđê vẫn còn chuộng việc chít khăn vải chàm hay khăn vàng nhạt khi đi ra đường hoặc trong ngày lễ tết.

Trang phục truyền thống Nam của dân tộc Êđê bao gồm hai yếu tố là áo và khố. Áo của người Nam có hai loại, áo dài trùm mông và áo dài quá gối. Áo dài trùm mông được thiết kế tay áo và thân áo dài, có xẻ tả và khoét cổ chui đầu. Trên nền chàm của thân và ống tay áo ở ngực, hai bên bả vai, cửa tay, các đường viền cổ, nơi xẻ tà gấu áo được trang trí và viền vải đỏ, trắng. Đặc biệt là khu giữa ngực áo có mảng sọc ngang trong bố cục hình chữ nhật tạo vẻ đẹp và khỏe. Dọc đường xẻ cổ ngực, có dính thêm nhiều khuy đồng, là những đoạn sợi chỉ đỏ đan sít vào nhau thành mảng hình thang cân lộn ngược.  Trong khi đó, áo dài quá gối có khoét cổ, ống tay bình thường không trang trí như loại áo dài trùm mông. Trên những tấm áo này, những đường chỉ màu trang trí thường tập trung ở những chi tiết như nách áo, gấu áo, vai, cổ và tay áo. Người Êđê vẫn thường khen ngợi chiếc áo đẹp nhất là áo kteh hay còn gọi là đếch kvưh grư, trước ngực áo có mảng hoa văn được gọi là “đại bàng dang cánh”. Gấu áo phía sau viền đường chỉ màu, gài thêm những hạt cườm trắng và tua chỉ màu dài tới 12cm. Mảng trang trí trước ngực được mệnh danh là cánh đại bàng. Dọc đường xẻ cổ ngực, có dính thêm nhiều khuy đồng, là những đoạn sợi chỉ đỏ đan sít vào nhau thành mảng hình thang cân lộn ngược.

Khố (Kpin) được dệt sẵn trên khung dệt. Chất liệu vải, trang trí hoa văn và độ dài ngắn có khác nhau. Màu nền của khố là màu chàm sẫm, trang trí hoa văn dọc rìa khố, hai đầu vạt khố. Loại khố sang và đẹp nhất của đàn ông Ê đê là khố kteh và đrai, dệt bằng sợi vải đẹp, dài, hai đầu khố có trang trí hoa văn và đính thêm tua khố dài tới 25cm. Đây là loại khố dùng trong ngày hội của những người có vị trí cao trong buôn làng. Khi mặc, hai đầu khố rủ dài phía trước và sau đùi. Loại khố pirêk trang trí hoa văn trên hai vạt khố, nhưng không có tua màu. Hai loại khố dùng thường ngày tring nhà hay đi nương là khố bơng và mlang, dùng loại này ngắn, ít hoa văn trang trí, không có tua màu.

Về mùa lạnh, đàn ông Êđê thường khoác tầm mềm Abăn dệt bằng sợi bông, nhuộm chàm, trên đó trang trí những đường hoa văn. Hình ảnh này tạo đã góp phần tạo nên hình tượng người con trai mạnh mẽ và hùng dũng giữa núi rừng đại ngàn Tây Nguyên.
<ul>
<li><strong>Trang Phục Nữ :</strong> Phụ nữ Êđê mặc loại áo cánh ngắn, may kiểu chui đầu. Không giống như áo chui đầu của nam giới, áo chui đầu của phụ nữ khoét cổ cao hơn, mở rộng cổ để chui đầu ở phía vai, có đơm thêm vài hàng khuy để cài. Bàn tay khéo léo của phụ nữ Êđê được thể hiện qua những đường may sợi chỉ, họ đã kết hợp những đường viền và các dải hoa văn nhỏ bằng sợi chỉ màu đỏ, trắng hoặc vàng. Loại áo sang và đẹp gọi là áo đếch theo tên của dải hoa văn nơi gấu áo. Trang trí trên áo thường ở đường bờ vai, nách bả vai, cửa tay, thân áo dài đến mông để khi mặc cho ra ngoài váy, trong khi đó, tay áo thường ngắn và hẹp, gấu áo chỉ chấm thắt lưng nên khi mặc làm nổi những đường nét khỏe khoắn của cơ thể phụ nữ.</li>
</ul>
Trang phục truyền thống của người phụ nữ Êđê độc đáo và khá lạ so với nhiều vùng miền khác ở chỗ phong cách trang trí là không có đường ở giữa thân áo. Đếch là tên gọi mảng hoa văn chính ở gấu áo. Ngoài ra phụ nữ còn có áo lót cộc tay (áo yếm). Hàng ngày, đồng bào dân tộc Êđê thường mặc loại áo băl. Loại áo này không trang trí hoa văn. Những người già lão ở đây còn ưa mặc một loại áo lót trong gọi là ao yên, chỉ có phần vải che ngực.

Phụ nữ Êđê diện nhiều loại váy khác nhau. Váy loại tốt là myêng đếch, rồi đến myêng đrai, myêng piêck. Loại váy này mặc trong những dịp hội hè long trọng, trong cưới xin, nhất là của những gia đình khá giả. Váy kdruêch piêck cũng là loại váy sang, nhưng không đẹp bằng hai loại váy kể trên. Còn váy bơng thì may bằng vải thô, không trang trí gì, thường mặc khi đi làm. Những bà già nghèo khó vẫn mặc loại váy này vì họ không có điều kiện mua sắm vải đắt tiền.

Nguyên liệu làm váy chủ yếu bằng vải bông màu chàm hoặc đen, tùy từng loại váy mà trang trí nhiều hay ít đường nét hoa văn. Ngày nay, váy được may bằng vải công nghiệp, chất lượng tốt hơn và cũng đẹp hơn, thậm chí trên nền vải còn trang trí những đường nét thêu thùa bắt mắt.

Cách mặc váy cũng khá độc đáo, họ đặt mép váy ở sườn bên trái, quấn một vòng quanh người từ eo bụng trở xuống, dắt mép váy ngoài về phía sườn bên phải. Để cho chặt có thể dùng thêm thắt lưng bằng vải hay bằng kim loại.

Phụ nữ Êđê còn trang sức bằng những loại vòng tay, vòng chân, nhẫn, dây chuyền bằng đồng hay bằng hạt cườm. Cách đây chưa lâu phụ nữ còn đội thứ nón đan, có quai giữ ở cằm, gọi là duôn bai. Thời trước, vòng tay thường đeo thành bộ kép nghe tiếng va chạm của chúng vào nhau họ có thể nhận ra người quen, thân.

Một loại phụ kiện không thể thiếu của người phụ nữ Êđê là chiếc khăn. Khăn được nhuộm chàm dùng để quấn tóc trên đầu. Khăn quấn quấn hình chữ “nhân” trước trán rồi buộc thành mối ra sau gáy và bịt khăn kín cả trán và đầu, mối vòng ra sau gáy phủ lên độn tóc.

Ngày nay, trang phục phụ nữ Êđê đã bị cách tân khá nhiều do ảnh hưởng quá trình phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa từ các vùng miền khác, tuy nhiên, người dân Êđê vẫn luôn tự hào về nghệ thuật trang trí hoa văn trên nền vải với màu sắc, hình khối, đường nét và bố cục riêng được thế hiện rõ nhất trong quá trình hình thành áo, váy, khố, túi, địu….

<strong>5.Kinh Tế </strong>

Người Ê Đê <a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%C3%A0m_r%E1%BA%ABy&amp;action=edit&amp;redlink=1″>làm rẫy</a> là chính, riêng nhóm Bíh làm <a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ru%E1%BB%99ng_n%C6%B0%E1%BB%9Bc&amp;action=edit&amp;redlink=1″>ruộng nước</a> theo lối cổ sơ, dùng trâu dẫm đất thay việc cày, cuốc đất. Ngoài trồng trọt còn <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C4%83n_nu%C3%B4i”>chăn nuôi</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=S%C4%83n_b%E1%BA%AFn&amp;action=edit&amp;redlink=1″>săn bắn</a>, hái lượm, <a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%C3%A1nh_c%C3%A1&amp;action=edit&amp;redlink=1″>đánh cá</a>,<a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90an_l%C3%A1t&amp;action=edit&amp;redlink=1″>đan lát</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=D%E1%BB%87t_v%E1%BA%A3i&amp;action=edit&amp;redlink=1″>dệt vải</a>. Trên nương rẫy, ngoài cây chính là lúa còn có <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4″>ngô</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Khoai”>khoai</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A7u”>bầu</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Thu%E1%BB%91c_l%C3%A1″>thuốc lá</a>,<a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%AD”>bí</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0nh”>hành</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/%E1%BB%9At”>ớt</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%C3%B4ng&amp;action=edit&amp;redlink=1″>bông</a>.

Đặc điểm làm rẫy của người Ê Đê là chế độ luân khoảnh, tức là bên cạnh những khu đất đang canh tác còn có những khu đất để hoang để phục hồi sự mầu mỡ. Ngày nay người Êđê gắn mình với sản xuất nông sản cây công nghiệp: <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A0_ph%C3%AA”>cà phê</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su”>cao su</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_ti%C3%AAu”>hồ tiêu</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Ca_cao”>ca cao</a>,…

Nghề trồng trọt ở đây có nuôi <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A2u”>trâu</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B2″>bò</a>, <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Voi_ch%C3%A2u_%C3%81″>voi</a>. Người dân ở đây còn tự làm ra đựơc đồ đan lát, bát đồng, đồ gỗ, đồ trang sức, đồ gốm.

<strong>6.Hôn Nhân </strong>

Trong gia đình người Ê Đê, <a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_nh%C3%A0&amp;action=edit&amp;redlink=1″>chủ nhà</a> là <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BB%A5_n%E1%BB%AF”>phụ nữ</a>, theo <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%BF_%C4%91%E1%BB%99_m%E1%BA%ABu_h%E1%BB%87″>chế độ mẫu hệ</a>, con cái mang họ mẹ, con trai không được hưởng <a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BB%ABa_k%E1%BA%BF&amp;action=edit&amp;redlink=1″>thừa kế</a>. Đàn ông <a href=”http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%C6%B0_tr%C3%BA&amp;action=edit&amp;redlink=1″>cư trú</a> trong nhà vợ. Nếu vợ chết và bên nhà vợ không còn ai thay thế theo <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%A5c_n%E1%BB%91i_d%C3%A2y”>tục nối dây</a> thì người chồng phải về với chị em gái mình. Khi chết, được đưa về chôn cất bên người thân của gia đình mẹ đẻ.Chỉ con gái được thừa kế tài sản, người con gái út được thừa kế nhà tự để thờ cúng ông bà và phải nuôi dưỡng cha mẹ già.

Lễ cưới của người Ê ĐÊ : <strong>Nghi lễ cưới xin của người Ê Đê, còn gọi là </strong><em>Yâo Ung Mỗ</em><strong>, cho đến nay vẫn ảnh hưởng đậm nét của chế độ mẫu hệ. Đó là tập tục con gái đi hỏi chồng và hôn nhân cư trú bên nhà vợ. Lễ cưới truyền thống của người Ê Đê thường được tiến hành tuần tự theo bốn bước. Đó là lễ Hỏi chồng (Nao huh); Lễ thoả thuận (Knăm); Lễ gọi chồng (Yâo Ung) và lễ lại mặt (Siê Knăm). Trong hôn lễ, trao vòng cầu hôn là nghi lễ quan trọng, đây là nghi lễ bắt buộc của các cô gái khi làm đám cưới thể hiện sự công nhận của thần linh, gia đình, cộng đồng cho đôi trai gái được tổ chức đám cưới để nên vợ nên chồng.</strong> <strong>Lễ hỏi chồng</strong> (Nao huh) là bước đầu tiên trong hôn lễ.

Theo phong tục mẫu hệ Ê Đê, khi người con gái tìm được người con trai ưng ý thì bảo cho bố mẹ biết. Bố mẹ cô gái nhờ người mối đưa chiếc vòng bằng chất liệu nào là tùy gia cảnh để mở đầu cho việc giao thiệp với nhà trai. Vài ba lần khi chàng trai đó đồng ý thì nhà gái sang nhà trai tổ chức lễ trao vòng. Trường hợp chàng trai không đồng ý thì lễ hỏi phải dừng lại, chờ đến khi sợi tơ hồng cuốn chặt.

Trao vòng cầu hôn được thực hiện trong nghi lễ hỏi chồng. Cô gái cùng ông mối và người anh, em trai của mẹ cô gái, còn gọi là Dăm dêi mang theo một lễ hỏi gồm một ché rượu, một vòng đồng để cúng thần tới nhà trai. Nếu người con trai không cùng trong buôn, người con gái còn phải mang thêm một gói cơm nếp.

Cô gái và chàng trai cùng chạm tay vào chiếc vòng đồng, ông cậu cầu cúng giàng. Và họ coi đó như lời giao ước hôn thú, có sự chứng giám của thần linh, có sự công nhận của cộng đồng, và sự thống nhất của cặp uyên ương. Từ sau lễ trao vòng, hai gia đình đã chính thức kết mối thông gia. Mỗi bên gia đình cử ra một người đỡ đầu của gia đình mình, còn gọi là Miết Ava. Từ đây Miết Ava không chỉ thay mặt gia đình, giúp đôi trẻ trong mọi nghi lễ để thành vợ thành chồng mà trong suốt cuộc đời còn lại sau này, ông luôn đóng vai trò như cha mẹ, khuyên răn chú rể, cô dâu và dàn hoà mọi bất hoà giữa hai gia đình.

Nhà trai sau lễ trao vòng, cũng trao cho bên nhà gái chiếc vòng để làm tin cho việc đính ước. Sau đó, nhà trai tổ chức bữa cơm rượu mời bên nhà gái.

<strong>Lễ thoả thuận</strong> (Knăm) là bước thứ hai trong hôn lễ của người Ê Đê. Thực chất là nghi lễ để hai gia đình gặp mặt bàn việc thách cưới do nhà trai đưa ra. Đối với các gia đình giàu có, đồ thách cưới gồm bò, trâu, chiêng, ché…Những gia đình bình thường, tuỳ theo gia đình mà đưa ra đồ thách cưới nhiều hay ít, nhưng nhất thiết phải có một ché rượu và một chiếc vòng đồng.

Thường thì nhà trai thách một trâu, một thanh la, một gà, 10 ghè rượu, 2 kiềng đồng (hoặc vàng). Có nhiều đám hỏi phải hoãn lại đến vài năm, vì nhà gái quá nghèo, không lo đủ đồ thách cưới. Cũng có khi nhà trai thông cảm cho “cưới tạm”, nhà gái trả nợ sau cũng được.

Theo lệ, cô gái sẽ sang ở nhà trai làm dâu một thời gian như để thử thách. Rất có thể sau đó, chàng trai khước từ hôn thú, nếu như thấy cô dâu không thích hợp với gia đình, thông qua “Lễ trả cô gái”. Trường hợp như vậy, nhà trai đòi phạt một khoản chi phí, thường là ché rượu và con lợn.

<strong>Lễ gọi chồng</strong> (Yâo Ung) là bước thứ ba trong hôn lễ của người Ê Đê

Khi đủ đồ thách cưới, nhà gái trao cho bên thông gia và xin cưới, tức làm “Lễ gọi chồng”. Hai Miết Ava gặp nhau bàn về những điều cam kết mới, đề phòng những việc không lành sẽ xảy ra khi đôi vợ chồng trẻ chung sống với nhau.

Đến hôm cưới, bên nhà gái đưa sang nhà trai đồ sính lễ và các thứ như trâu, bũ, lợn, gà, rượu, quần áo… theo đúng thoả thuận của hai gia đình, kèm theo không thể thiếu chiếc vòng. Nếu nhà gái nghèo thì chỉ nộp một phần, phần còn lại hai vợ chồng cùng làm nộp dần sau.

Lễ cưới tổ chức hai ngày liền. Ngày đầu, nhà gái làm thịt bò, lợn thết đãi, rồi làm lễ “rước rể” về. Nhà trai tiễn con bằng một ché rượu và con lợn. Khi về bên nhà vợ, nếu có voi, chú rể được cưỡi voi, không có phải đi bộ. Trước đây, trong khi rước rể, một tốp thanh niên tinh nghịch sẽ đón đường đám cưới, té nước vào chú rể, thay lời chúc phúc đôi bạn trẻ.

Bước vào nhà gái, chàng rể phải rửa chân bằng bát nước lễ. Khi chủ và khách yên vị, mọi người tiến hành lễ cúng cho mẹ chồng, gồm một ché rượu, một con lợn. Sau đó mới làm lễ cúng tổ tiên, gồm năm ché rượu và một con lợn. Một ông cậu lấy máu con vật hiến sinh bôi lên chân đôi vợ chồng mới cưới, chúc cho cô dâu, chú rể mỗi người hai miếng cơm với ba sừng rượu. Vị trưởng họ nhà gái đại diện hai bên đưa vòng đồng cho đôi vợ chồng trẻ, cố ý đợi họ chạm tay vào, nhắc nhở lòng thuỷ chung ở mỗi người.

Sau đó, bên họ nhà gái lấy ba chén rượu và ba chiếc vòng trao cho chú rể, cậu ruột chú rể và anh ruột chú rể. Nhà trai trao lại ba chén rượu và ba chiếc vòng lần lượt cho cô dâu, cậu ruột cô dâu và anh ruột cô dâu. Việc làm này tượng trưng cho sự chứng kiến của thánh thần và toàn thể buôn làng.

Ngày thứ hai, khi các lễ đã xong, mọi người tụ hợp vật bò mổ lợn, ăn mừng chú rể cô dâu. Trong khi đó, hai ông cậu đưa rượu cho cô dâu chú rể. Hai vợ chồng trao nhau chén rượu rồi uống cạn chén rượu hợp cẩn và nghe giáo huấn của cha mẹ cùng hai họ. Khách dự lần lượt đi qua trước mặt hai vợ chồng chúc tụng và tặng quà.

<strong>Lễ lại mặt</strong> (Siê Knăm) là bước cuối cùng, kết thúc nghi lễ cưới để đôi vợ chồng trẻ bước vào cuộc sống vợ chồng.

Sau lễ cưới ba hoặc năm ngày, hai vợ chồng về nhà bố mẹ chồng làm lễ lại mặt (Siê Knăm). Nhà trai mời rượu và đưa một số đồ gia dụng (nông cụ, đũa bát…) đặt bên ché rượu để chú rể mang về nhà vợ.  Sau lễ lại mặt, hai vợ chồng chính thức chung sống, đôi vòng đồng – được coi như kỷ vật, như những lời cam kết thủy chung, đồng thời lời chúc tụng hạnh phúc cho cô dâu chú rể và anh em hai họ. Chúng thường được lưu giữ suốt đời, khi chết chôn theo hoặc trao lại cho con cháu làm di vật quý.

<strong>7.Tôn giáo</strong>

Phần lớn người Ê Đê theo đạo <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Tin_L%C3%A0nh”>Tin Lành</a> thuộc dòng Tin Lành hệ <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1p-t%C3%ADt”>Báp-tít</a><sup>]</sup> được các nhà truyền giáo Na Uy, Phần Lan từ Bắc Âu truyền vào những năm đầu thế kỷ 20. Đắc Lắc nơi tập trung đông người Ê Đê nhất cũng là nơi có tín đồ Tin Lành nhiều nhất Việt Nam, đây được coi một trong những trung tâm đạo Tin Lành lớn nhất khu vực Đông Dương. Họ thường đọc kinh cầu nguyện tại các nhà riêng của <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%A5c_s%C6%B0″>mục sư</a>, hiện tại các nhà thờ Tin lành vẫn chưa nhiều

<a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_gi%C3%A1o_R%C3%B4ma”>Công giáo Rôma</a> được truyền bá thông qua các nhà truyền giáo Tây Ban Nha, sau này là người Pháp. Những người theo Công giáo Rôma thì thường đến các nhà nhờ tại địa phương vào ngày chủ nhật.

Một số ít theo <a href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o”>Phật giáo</a> tại các vùng đô thị chủ yếu là người Ê Đê kết hôn với ngươi Việt, người Hoa.

Số còn lại vẫn theo nét tín ngưỡng cổ truyền, thờ cúng các thần hộ thân cho mình.

<strong>8.Một số lễ hội </strong>
<ul>
<li><strong>Lễ cúng thần lúa :</strong></li>
</ul>
Trước khi tổ chức lễ cúng thần lúa, chủ rẫy phải chuẩn bị các bước như: Phát hoang, đốt rẫy, dọn đất… Sau khi chuẩn bị các bước trên xong, dân làng chuẩn bị Lễ cúng thần lúa và các thần khác, như: cúng thần gió, cúng cái cào cỏ, lễ trỉa lúa cho cả buôn, lễ cầu mưa. Cầu các thần phù hộ cho mưa thuận gió hòa mùa màng được bội thu, kinh tế phát triển, đời sống ấm no hạnh phúc.Đầu tiên là Lễ trỉa lúa cho cả buôn: Trong lễ này người ta dựng 2 chòi ở nơi trước đây đã làm lễ cúng thần gió, với ý nguyện: “Mong mưa phùn đủ nước, mong mưa rào no rẫy”. Lễ vật gồm: 7 ché rượu, 1 con heo, 8 con gà. Cúng ở trong nhà: Một bộ cồng chiêng, đặt đủ 7 ché rượu và các con vật làm sẵn để dâng cho các thần. Cúng ở ngoài trời, gồm: một chòi có 3 cái bồ lúa đựng đất, chòi ở cho Thần Lúa, có tượng 2 vợ chồng tượng trưng cho thần canh giữ rẫy, nằm dưới chòi có 1 tượng thần độc ác bị buộc chặt vào cột nhà ngụ ý để không bị phá phách. Vật liệu trang bị cúng ở ngoài buôn: 1 cây cắm tổ ong, nhiều hình giả con thú, hạt giống thật (lúa Ngô, hạt bí bầu… được trộn chung với nhau), cây chọc lỗ, ống lồ ô đựng hạt để tỉa lúa, các loại bẫy phòng trách thú vật phá hoại… Lễ cúng hạt giống này để cầu cho hạt lúa lên đều.Người M’nông còn tái hiện lại cảnh lao động sản xuất, tạo mưa cho mùa màng tươi tốt và đặt các loại bẩy để tránh các loại thú đến phá hoại và xin các thần đừng cho các con thú nhỏ phá hại lúa đang nẫy mầm mau phát triển xanh tốt.Sau khi cúng xong ngoài trời, họ trở về nhà đánh cồng chiêng mời các thần ăn uống rồi người dân lần lượt ăn uống. Sau đó, tiếp tục cúng đưa đi và xua đuổi Thần sấm sét trở về nơi của mình. Khi lúa sắp trổ bông chủ rẫy lại chuẩn bị lễ vật cúng lúa sắp trổ bông, cầu lúa trổ bông đều dài đầy hạt đạt năng xuất cao. Chuẩn bị cho lễ cúng này, chủ nhà chọn một mô đất quanh một bụi lúa giữa rẫy, cắm một tre nhỏ, dai giữa nắm đất, tượng trưng cho thần lúa. Lễ này cúng cho các thần: Thần núi, Thần lúa, người đã qua đời.Khi lúa đến mùa thu hoạch, chủ rẫy lại chuẩn bị lễ cúng tuốt lúa đầu mùa và nghi lễ ăn cơm mới, gồm 2 phần: Lễ cúng cơm mới: Lúa bắt đầu chín, người nhà lên rẫy tuốt một gùi đem về, phơi giả nấu cơm cúng. Họ hàng được báo đều đến thăm gia chủ.Những ngày này, trên các ngã đường lên rẫy, người ta bầy lễ vật cúng tạ thần mưa. Cúng tuốt lúa đầu mùa: Cầu lúa đầy bồ, sức khỏe dồi dào ấm no hạnh phúc. Trước khi tuốt, chủ thăm rẫy, để ý góc lúa tốt nhất, buộc túm 7 ngọn lại úp giỏ đựng lúa lên trên. Khóm lúa này sẽ dung làm vật phẩm trong lễ đóng kho lúa. Thời gian ăn cơm mới kéo dài khi tuốt lúa cho đến khi lúa chin hết trên rẫy.Lúa đã thu hoạch về nhà, chủ rẫy lại tổ chức lễ cúng hồn lúa trữ kho: Cầu mong ăn nhiều, dư nhiều, phần dư bán để sắm tài sản làm giàu cho gia đình, cầu mong không bao giờ thiếu ăn nghèo đói. Đây là nghi lễ nông nghiệp phản ánh nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Êđê.

&nbsp;

&nbsp;

&nbsp;

&nbsp;

&nbsp;

&nbsp;

Giới thiệu về tác giả

client-photo-1
Vận Chuyển Việt

Đánh giá

Trả lời